Đây là giai đoạn khá sôi động với những chuyển biến, thay
đổi to lớn có tính nền tảng trong lịch sử Việt Nam. Vì lẽ đó, đây là giai đoạn thu
hút được sự quan tâm nghiên cứu của nhiều sử gia tầm cỡ, nhiều trung tâm nghiên
cứu có uy tín trên thế giới. Mức độ, tần suất và số lượng các công trình xuất
hiện liên tiếp cả trong quá khứ và hiện nay đã phần nào nói lên điều đó. Có thể
liệt kê một số công trình tiêu biểu có mức độ liên quan gián tiếp và trực tiếp
sau đây:
Chủ Nhật, 16 tháng 8, 2015
Thứ Năm, 26 tháng 2, 2015
TRẦN ĐỨC THẢO VÀ NHỮNG VA ĐẬP HIỆN THỰC NGHIỆT NGÃ (Qua cuốn sách “Trần Đức Thảo – những lời trăng trối”)
Trần Đức
Thảo thuộc “thế hệ vàng” trí thức Việt Nam đầu thế kỷ XX. Cuộc đời và sự nghiệp
của ông gắn liền với những bàn luận, tranh cãi mâu thuẫn, thậm chí đối lập nhau.
Năm 1951,
để lại đằng sau kinh thành Paris hoa lệ, chọn đứng
về “phe nước mắt”, quyết định trở về nơi chiến tranh và cách mạng đang diễn
ra cuồng nhiệt, nóng bỏng đến độ trần trụi, hy vọng
tìm thấy một con đường cho triết học cũng như thực tại, có lẽ Trần Đức Thảo không bao giờ tưởng tượng ra
rằng, hiện thực không giàu chất thơ và sự dã
man của chính trị là khôn cùng…
Thứ Sáu, 8 tháng 8, 2014
LỖI HỆ THỐNG VÀ “YẾU HUYỆT” GIÁO DỤC VIỆT NAM (Qua trường hợp học sinh lớp 12 không chọn thi môn Lịch sử)
Giáo dục – đào tạo là một trong những
lĩnh vực then chốt, có vai trò đặc biệt quan trọng trong sự phát triển bền vững
của mỗi quốc gia. Giáo
dục là tiền đề, là động lực của tiến bộ xã hội. Đa số các quốc gia trên thế giới
đều nhận thức giáo dục là chìa khóa mở cửa tương lai, nỗ lực xây dựng một nền
giáo dục hoàn bị, coi thành bại của giáo dục là một trong những tiêu chí đánh
giá uy tín, năng lực quốc gia. Còn ở Việt Nam?
1- Nói “không” với
môn Sử
Những
ngày chuẩn bị diễn ra kỳ thi tốt nghiệp PTTH năm 2014, cả nước ồn ào tranh cãi,
bàn luận về chuyện học sinh lớp 12 “quay lưng” lại với môn Lịch sử.
Thứ Tư, 4 tháng 12, 2013
NHỮNG BẤT CẬP TRONG LÃNH ĐẠO, QUẢN LÝ PHÁT TRIỂN XÃ HỘI Ở VIỆT NAM GIAI ĐOẠN 1975-1985
Nguyễn Thị Mai Hoa
Đại học Quốc gia Hà
Nội
Đại thắng mùa Xuân năm 1975 đã in một dấu mốc quan trọng
trong lịch sử Việt Nam: Giang sơn thu về một mối, đất nước hoàn toàn độc lập,
thống nhất. Một kỷ nguyên mới, đầy hứa hẹn được mở ra với dân tộc Việt Nam - kỷ
nguyên hoà bình, độc lập tự do và phát triển. Tuy nhiên, xây dựng đất nước
“đàng hoàng hơn, to đẹp hơn” không thể chỉ bằng niềm tin và ý chí. Con đường đi
đến phồn vinh đầy phức tạp, khó khăn và không hề giản đơn. Quá trình xây dựng, quản
lý phát triển xã hội ở Việt Nam những
năm 1975-1985 là một minh chứng cho kết luận đó. Sự lãnh đạo của chính quyền, nhà
nước đối với “phát triển xã hội”[1] và “quản
lý phát triển xã hội”[2] giai đoạn
này đã phát lộ những bất cập, sai lầm, khuyết điểm, là một trong những nguyên
nhân đưa đất nước rơi vào khủng hoảng kinh tế – xã hội trầm trọng. Hiện nay,
khi công cuộc đổi mới đang được đẩy mạnh, những nhược điểm, khiếm khuyết và
nguyên nhân trong lãnh đạo phát triển xã hội, quản lý phát triển xã hội của
Đảng[3] trên phương
diện nội dung lãnh đạo những năm 1975-1985 cần được mổ xẻ, phân tích và soi
chiếu, nhằm rút kinh nghiệm, tránh vết xe đổ của ngày hôm qua.
Thứ Hai, 2 tháng 12, 2013
ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI Ở VIỆT NAM: THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP
Nguyễn Thị Mai Hoa
Đại học Quốc gia Hà Nội
Đối với đa số các nước, đặc
biệt các nước đang phát triển, nguồn vốn đầu tư nước ngoài ngày càng giữ vai trò quan
trọng trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội. Số lượng và chất lượng đầu
tư trực tiếp nước ngoài (FDI) được coi như một chứng chỉ giá trị cho sự hội
nhập kinh tế của một nước với thị trường toàn cầu; đồng thời, nó còn là tiêu
chí đánh giá năng lực và triển vọng phát triển kinh tế của nước đó. Bên cạnh
những tác động tích cực trực tiếp về mặt kinh tế, đầu tư trực tiếp nước ngoài
còn tác động gián tiếp đến các lĩnh vực chính trị, ngoại giao, góp mặt với tư
cách một động lực phát triển quan hệ quốc tế.
Thứ Bảy, 5 tháng 10, 2013
TƯ TƯỞNG ĐỘC LẬP, TỰ DO CỦA HỒ CHÍ MINH VỚI VIỆC TẬP HỢP LỰC LƯỢNG CHO CUỘC CÁCH MẠNG DÂN TỘC GIẢI PHÓNG Ở VIỆT NAM (1930-1945)
Nguyễn Thị Mai Hoa
Đại học Quốc gia Hà Nội
Trong tư tưởng Hồ Chí Minh, độc lập, tự do là tư
tưởng cơ bản, là hạt nhân và nền tảng hết sức quan trọng. Tư tưởng ấy đã được
kiểm chứng qua thực tiễn cách mạng giải phóng dân tộc Việt Nam, không chỉ là
động lực, mục tiêu, mà còn là cơ sở của chiến lược tập hợp lực lượng rộng
rãi cho cuộc đấu tranh giành độc lập tự do do chính Hồ Chí Minh khởi xướng.
1. Cuối thế kỷ XIX, trước cảnh nước mất nhà tan, trăn trở với
vận nước Nguyễn Ái Quốc đã đi sang phương Tây với “một ham muốn, ham muốn tột
bậc, là làm sao nước ta được hoàn toàn độc lập, dân ta được hoàn toàn tự do,
đồng bào ai cũng có cơm ăn, áo mặc, ai cũng được học hành"[1]. Với xuất phát điểm ấy, đã xem
xét vấn đề giải phóng dân tộc một cách thực chất, sát với điều kiện một nước
thuộc địa.
Thứ Sáu, 4 tháng 10, 2013
PHÁT HUY TÍNH NĂNG ĐỘNG TRONG KINH TẾ CỦA NGƯỜI NÔNG DÂN –TỪ GÓC NHÌN CHÍNH SÁCH
Nguyễn Thị Mai Hoa
Đại học Quốc gia Hà Nội
Trong công cuộc đổi mới, đổi mới cơ
chế quản lý nông nghiệp được coi là nét đặc trưng nổi bật, có ý nghĩa mở đầu
cho công cuộc đổi mới kinh tế ở Việt Nam. Nhận thức vị trí quan trọng của nông
nghiệp, Nhà nước Việt Nam có những chính sách thúc đẩy nông nghiệp phát triển,
mà một trong những chính sách đóng vai trò đòn bẩy và quyết định đổi mới nông
nghiệp là hướng tới việc phát huy và tăng cường tính tích cực, sự năng động
kinh tế của người nông dân, mà thực chất chính là tái xác lập kinh tế nông hộ.
Nông hộ (hộ gia đình nông dân) là
hình thức tổ chức kinh tế cơ sở của nông nghiệp, nông thôn và đã có mặt từ lâu
ở tất cả các nước nông nghiệp.
XÂY DỰNG NỀN GIÁO DỤC VIỆT NAM SAU THẮNG LỢI CỦA CÁCH MẠNG THÁNG TÁM (1945)
Nguyễn Thị Mai Hoa
Đại học Quốc gia Hà
Nội
Cách
mạng tháng Tám 1945 thành công đã phá tan xiềng xích của chế độ thực dân gần
100 năm cùng với chế độ vua quan phong kiến hàng ngàn năm, khai sinh ra nước
Việt Nam DCCH. Toàn thể dân tộc Việt Nam bước vào kỷ nguyên mới - kỷ nguyên độc
lập và tự do. Đó chính là điều kiện cơ bản, thuận lợi để Đảng, Nhà nước Việt
Nam xây dựng đất nước về mọi mặt, trong đó có việc xây dựng một nền giáo dục,
đáp ứng được nhu cầu phát triển và phù hợp với hoàn cảnh mới của đất nước.
Thứ Hai, 16 tháng 9, 2013
HỒ CHÍ MINH VIẾT VỀ QUYỀN CON NGƯỜI
Nguyễn Thị Mai Hoa
Đại học Quốc gia Hà Nội
Mong muốn phấn đấu cho hoà bình, độc lập tự do của dân
tộc, hướng tới xóa bỏ bất công, áp bức để xây dựng một xã hội văn minh, tiến
bộ, trong phần lớn bài viết của mình, Hồ Chí Minh thường đề cập đến quyền con
người, coi đó là những quyền thiêng liêng của cá nhân, của dân tộc. Đó là những
luận điểm về quyền được sống trong độc lập tự do, được mưu cầu hạnh phúc.
1. Mục đích mà Nguyễn
Tất Thành - Hồ Chí Minh theo đuổi ngay từ những ngày đầu tiên ra nước ngoài là tìm
con đường thoát giúp đất nước thoát khỏi vòng nô lệ, làm cho Việt Nam hoàn toàn
độc lập, nhân dân Việt Nam hoàn toàn tự do, ai cũng có cơm ăn, áo mặc, ai cũng
được học hành. Hồ Chí Minh trở thành một trong số ít người Việt Nam tiếp cận
sớm nhất, trên phạm vi sâu rộng nhất về quyền con người.
Chủ Nhật, 15 tháng 9, 2013
VẤN ĐỀ “DẠY CHỮ” VÀ “DẠY NGƯỜI” TRONG HỆ THỐNG GIÁO DỤC VIỆT NAM
Nguyễn Thị Mai Hoa
Đại học Quốc gia Hà Nội
Giáo dục –
đào tạo là một trong những lĩnh vực then chốt, có vai trò đặc biệt quan trọng
trong sự phát triển bền vững của mỗi quốc gia. Giáo dục vừa là mục tiêu,
vừa là động lực để xây dựng đất nước, là chìa khoá mở cửa tiến vào tương lai.
Việt Nam cũng không nằm ngoài quy luật ấy - chiến lược “trồng người” của Việt
Nam, nhằm vào mục tiêu, định hướng phát triển: “Dạy chữ” và “dạy người”.
1. “Dạy chữ” và “dạy
người” – mục tiêu chiến lược của giáo dục – đào tạo
Năm 2011, Đại hội XI của Đảng CSVN xác định mục tiêu
tổng quát khi kết thúc thời kỳ quá độ ở Việt Nam là “xây dựng được về cơ bản
nền tảng kinh tế của chủ nghĩa xã hội với kiến trúc thượng tầng về chính trị,
tư tưởng, văn hóa phù hợp, tạo cơ sở để nước ta trở thành một nước xã hội chủ
nghĩa ngày càng phồn vinh, hạnh phúc”[1].
Đăng ký:
Bài đăng (Atom)








